Sâu bệnh chủ yếu hại cây lúa vụ Đông Xuân

Cây trồng liên quan: Cây lúa
Sâu hại liên quan: Bọ xít dài
Bệnh hại liên quan: Đạo ôn

Câu hỏi: Đặc điểm và triệu chứng gây hại của các đối tượng sâu bệnh hại chủ yếu trên lúa vụ Đông Xuân và biện pháp phòng trừ?

Trả lời: Trong điều kiện thời tiết khí hậu vụ Đông Xuân thường xuất hiện các đối tượng sâu bệnh hại chủ yếu là:

- Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Rầy nâu có 5 tuổi, tuổi nhỏ thường gọi là rầy cám, trưởng thành màu xám nâu và có 2 dạng cánh ngắn và cánh dài. Khi mật độ rầy cánh ngắn xuất hiện cao là báo trước nguy cơ cháy rầy, rầy cánh dài xuất hiện khi các yếu tố thức ăn không phù hợp và thời tiết bất lợi. Rầy nâu thường bám trên thân lúa sát mặt nước, chích hút dịch lúa để sống và hoàn thiện vòng đời. Nếu mật độ rầy nâu thấp cây lúa sinh trưởng kém, lá biến màu xanh vàng. Khi mật độ rầy cao (trên 3000 con/m2) thì cây lúa bị chết và biến màu vàng rơm (lúa bị cháy rầy). Rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh vi rút vàng lùn và lùn xoắn lá gây thất thu hoàn toàn năng suất lúa.

Ruộng lúa bị rầy nâu phá hại

Ruộng lúa bị rầy nâu phá hại

- Quy luật phát sinh gây hại: Trong điều kiện thời tiết vụ Đông Xuân rất phù hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển gây hại của rầy nâu. Vì vậy mật độ rầy thường tăng nhanh và gây cháy rày trong vụ lúa Xuân. Rầy nâu có thể gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của lúa, nhưng giai đoạn mẫn cảm nhất với rầy nâu là từ giai đoạn lúa đứng cái đến trổ chín.

- Biện pháp phòng trừ rầy nâu:

+ Dùng giống lúa kháng rầy có ý nghĩa quyết định trong công tác phòng trừ rầy nâu.

+ Cần chú ý gieo cấy tập trung đúng thời vụ và có kế hoạch chủ động trong công tác phòng trừ rầy. Mật độ rầy có thể tăng đột ngột trong thời gian ngắn, vì vậy cần kiểm tra và giám sát đồng ruộng thường xuyên nhằm đưa ra biện pháp phòng trừ kịp thời và hiệu quả.

+ Khi rầy cánh ngắn xuất hiện với mật độ cao là báo trước nguy cơ cháy rầy. Vì vậy cần phun trừ kịp thời rầy nâu bằng một trong các loại thuốc như Trebon 10 EC, Bassa 50 EC… nồng độ từ 0,15 - 0,2%. Chú ý rẽ hang lúa cách nhau 1m và chĩa vòi phun xuống gốc lúa thì hiệu quả mới cao.

- Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Bọ xít thường gây hại nặng trên các trà lúa khi bước vào giai đoạn trổ, phơi hoa đến chín sữa. Bọ xít non và trưởng thành dùng vòi chích hút dịch của hạt lúa, làm cho hạt lúa bị thâm đen và lép lửng. Những hạt lú này khi xay bị đớn và ăn có vị đắng. Tác hại này của bị xít không những làm giảm năng suất mà còn làm giảm nghiêm trọng chất lượng lúa gạo.

Vòng đời của bọ xít dài hại lúa

Vòng đời của bọ xít dài hại lúa

- Quy luật phát sinh gây hại: Bọ xít non và trưởng thành thường hoạt động mạnh và giao phối vào buổi sang và chiều mát, sau khi mưa trời hửng nắng.

- Biện pháp phòng trừ bọ xít:

Vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ cỏ dại là những kí chủ phụ của bọ xít. Tập chung cấy đúng thời vụ trên toàn cánh đồng để có kế hoạch theo dõi và chủ động phòng trừ bọ xít. Khi mật độ bọ xít trong ruộng cao có thể dung một trong các loại thuốc như: Bassa 50 EC, Trebon 10 EC… nồng độ từ 0,15 - 0,2% (chú ý không được phun thuốc khi lúa đang phơi hoa). Cần phun phòng bọ xít trước khi lúa trổ khoảng 5 - 7 ngày hoặc dung bẩy bã để tiêu diệt bọ xít khi lúa đang phơi hoa.

Bệnh đạo ôn hại lúa

- Triệu chứng bệnh: Bệnh phát sinh gây hại trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng của lúa và hại trên nhiều bộ phận của cây như lá, cổ bông, thân, gié lá, hạt và bẹ lá. Trên lá lúa là vết bệnh đầu tiên là các chấm nhỏ màu vàng nhạt. Ban đầu vết bệnh hơi tròn hoặc hình bầu dục, sau phát triển thành hình thoi, ở giữa có màu xám tro, viền vết bệnh có màu vàng nhạt. Trong trường hợp bệnh nặng, các vết bệnh liên kết lại với nhau làm cho lá lúa bị cháy khô. Khi gặp độ ẩm cao (trời mưa phùn hoặc có sương mù) thì trên vết bệnh xuất hiện lớp nấm mốc màu xám xanh. Khi bẹ lá bị bệnh nặng sẽ làm cho toàn bộ ruộng lúa bị tàn lụi nhanh chóng. Trên đốt thân và cổ bông vết bệnh có màu đen hoặc xám đồng hơi lõm xuống làm cho bông lúa bị gãy gục (giai đoạn sau trổ). Vết bệnh trên hạt thường hình tròn hoặc không định hình.

- Biện pháp phòng trừ bệnh đạo ôn:

Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng nước nóng 54 độ C trong 10 - 15 phút. Vệ sinh đồng ruộng bằng cách dọn sạch tàn dư và kí chủ phụ của nấm bệnh trên đồng ruộng sau khi thu hoạch. Những nơi thường xảy ra dịch bệnh đạo ôn cần bó trí cơ cấu giống phù hợp. Ưu tiên các giống lúa kháng bệnh đạo ôn, bón phân cân đối, tránh bón thừa đạm. Khi bệnh xuất hiện thì ngừng bón thúc đạm, kết hợp bón vôi bột và tro bếp theo tỷ lệ 2 : 3, bón từ 3 – 5 kg/sào vào buổi sang. Khi bệnh có nguy cơ bùng phát thành dịch cần dung một trong cáo loại thuốc sau để phun trừ: Kitajin 50 EC, Fujioan, Hinosan… nồng độ từ 0,15 - 0,2%.

Lưu ý: Ngoài các đối tượng sâu bệnh chủ yếu nêu trên, trong vụ lúa Đông Xuân cần chú ý các đối tượng như sâu phao, sâu cuốn lá nhỏ, ruồi đục lá, sâu đục thân, bệnh nghẹt rễ lúa, bệnh khô vằn, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, lùn sọc đen…

Nguồn: theo Bình Điền
Bài liên quan
  • Phòng trừ rầy nâu hại lúa mùa Phòng trừ rầy nâu hại lúa mùa
    Rầy nâu là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm trong vụ mùa. Trung tâm Phát triển cây trồng Hà Nội xin giới thiệu đặc tính sinh học và biện pháp phòng trừ...
  • Phòng, trừ rầy nâu hại lúa Chiêm Xuân Phòng, trừ rầy nâu hại lúa Chiêm Xuân
    Để bảo vệ an toàn cho cây lúa khỏi bệnh rầy nâu, đặc biệt là trà lúa Xuân muộn, người dân nên bám sát đồng ruộng, kịp thời phát hiện các xứ đồng có mật độ rầy cao...
  • Kỹ thuật chăm sóc lúa chiêm xuân năm 2017 Kỹ thuật chăm sóc lúa chiêm xuân năm 2017
    Vụ xuân 2017 được dự báo là vụ xuân ấm và khô; bên cạnh đó trời ít mưa, ẩm độ không khí rất thấp (dưới 60%) điều này đã làm ảnh hưởng tới lúa cấy và gieo thẳng giai đoạn đầu vụ.
  • Lúa "tốt lốp" (thừa đạm) và biện pháp khắc phục Lúa "tốt lốp" (thừa đạm) và biện pháp khắc phục
    Các biểu hiện của lúa tốt lốp: Lá dài thượt và rối lá, khóm lúa không gọn gàng, lá và trục khóm có hình quả chuối đang bóc; lúa rất dễ nhiễm các bệnh về nấm và vi khuẩn...